Giới thiệu về nội dung Tại sao môn văn lại đáng ghét đến thế? Tại sao học sinh không thích học văn ngay cả đôi khi các em thích văn chương? Về bản chất, giáo dục áp đặt là sự nhân bản vô tính về mặt tinh thần mà kết quả là biến xã hội thành một tập hợp các bản sao của những hình mẫu cứng nhắc và xa lạ. Trước đây, do cuộc sống của con người cũng như các kỹ năng làm việc còn đơn giản và thay đổi rất chậm, phương pháp giáo dục áp đặt có những ưu thế của nó. Ngày nay thế giới đã khác, đòi hỏi một phương pháp giáo dục khác. Nhưng phương pháp giáo dục chưa phải là tất cả, và thậm chí chưa phải là nguyên nhân quan trọng nhất. Cốt lỗi của vấn đề, là quan niệm lạc hậu của chúng ta về bản chất của văn học. Mặc dù ít khi nói thẳng ra, nhưng trong quan niệm của đại đa số các nhà giáo, nhà văn và cả các nhà phê bình, tác phẩm văn học là một sản phẩm được quyết định hoàn toàn bởi văn tài của tác giả, kẻ đóng vai trò của Thượng Đế trong quá trình sáng tạo. Quan niệm máy móc này có một hệ quả hiển nhiên: Tác phẩm văn học có thể xem như một đối tượng độc lập với người tiếp nhận, chẳng khác gì một chiếc ghế hay một hộp bánh,với những đặc điểm xác định và bất biến, có thể mô tả, truyền đạt, phân tích một cách khách quan. Chính với quan niệm như vậy mà các nhà văn vẫn tuyên bố; “Thời gian là vị quan toà công bằng nhất” mà không biết rằng mình đang tự lừa dối mình. Chính với quan niệm như vậy mà các sách hướng dẫn và giáo viên văn thường quy việc tiếp nhận tác phẩm vào một số “điểm” về nội dung và hình thức để bắt học sinh học thuộc lòng và giáo viên chấm bài, căn cứ vào “barem”. Thực ra, từ lâu, người ta đã nhận thấy rằng văn học không phải là một sản phẩm với những đặc điểm xác định, mà là một quá trình – quá trình tương tác giữa tác giả, người đọc, thực tại lịch sử và ngôn ngữ. Trong quá trình này, tác giả không phải là kẻ quyết định tuyệt đối, và người đọc cũng không phải là kẻ thụ động. Mặt khác, thực tại lịch sử và ngôn ngữ cũng không ngừng thay đổi và phụ thuộc vào tác giả và người đọc. Giá trị của tác phẩm không bất biến. Ngay cả các kiệt tác, các điểm phạm trong một nền văn học cũng là những sản phẩm lịch sử được một cộng đồng người lựa chọn cho những yêu cầu lịch sử, vì thế cũng thay đổi cùng với thời gian. Mục lục: Lời cảm ơn Lời nói đầu Chương 1: Từ những hệ quy chiếu bất bình đẳng đến một cách tiếp cận tổng thể Chương 2: Thơ và truyện Chương 3: Điển tích và sự mở rộng khái niệm điển tích Chương 4: Văn chương như là quá trình dụng điển Chương 5: Quá trình dụng điển trong thơ Chương 6: Quá trình dụng điển trong truyện Kết luận: Văn chương như là một chiều kích của đời sống xã hội Tài liệu tham khảo. Mời bạn đón đọc. Báo chí giới thiệu Theo Báo Thanh Niên Văn chương như là quá trình dụng điển(Thứ sáu, 14/11/2008 08:27:12 AM)
Văn chương như là quá trình dụng điển, theo tác giả, là mấu chốt của vấn đề. Nhìn văn chương từ bình diện dụng điển, Ngô Tự Lập lý giải vì sao người châu Âu thích tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh hơn những truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp. Ký ức, sự khốc liệt chiến tranh trong tiểu thuyết của Bảo Ninh bắt gặp ký ức thân phận của nhiều con người, của ký ức tập thể về những cuộc chiến khác nhau trên thế giới. Nhưng làng quê, sự xung đột quá đặc thù Việt Nam trong tác phẩm Nguyễn Huy Thiệp lại có một không - thời - gian quá riêng; không phải là văn hóa, ký ức chung của đa số nhân loại. Trong quá trình dụng điển, tính thân thuộc, tín hiệu hóa và việc phát-nhận tín hiệu trong văn bản quyết định sức sống cô lập hay phổ biến của tác phẩm. Có hai hình thái dụng điển thông thường: điển tích văn học và điển tích đời sống. Cơ bản, nó là sự nắm bắt ký ức, môi trường văn hóa, những quy ước bất thành văn... của cộng đồng bạn đọc mà tác phẩm chạm đến. Từ đó, nhìn từ giác độ ngôn ngữ học, Ngô Tự Lập lật đổ quan niệm những nhà lý thuyết "nuôi ảo ảnh về ngôn ngữ văn chương" - những người nỗ lực định nghĩa đối lập ngôn ngữ văn chương với ngôn ngữ đời sống, phân biệt ngôn ngữ từng thể loại văn chương với nhau (mà ở đây, cụ thể là giáo sư Phan Ngọc, trước đó có các nhà hình thức chủ nghĩa Nga 1910 - 1920, trường phái cấu trúc Praha 1920 - 1930, Phê bình mới ở Anh, Mỹ từ 1940 - 1970...). Cũng trên quy chiếu ngôn ngữ, tác giả có góc nhìn thiên về Heidegger, Bakhtin và các nhà tư tưởng hậu hiện đại khi tìm ra hàm nghĩa vấn đề là "văn chương không thể tồn tại bên ngoài xã hội, và như vậy nó luôn biến đổi cùng với xã hội" và nhận ra "trong các lý thuyết kinh điển, không lý thuyết nào có thể lý giải đầy đủ về bản chất của văn chương". Từ những lập luận thấu đáo khởi đi bằng lý thuyết mới từ phương Tây, Ngô Tự Lập đã đưa vấn đề cốt lõi của cuốn sách trở về gần với quan niệm văn chương truyền thống phương Đông; cho rằng nghiên cứu văn học nếu chỉ dừng lại ở văn bản thì chỉ là một sự hoang tưởng. Nghiên cứu văn học phải là nghiên cứu con người, tìm thấy mối tương quan giữa tác phẩm và bối cảnh sinh ra nó, tương tác giữa tác giả với người thưởng thức. Và khi nhìn nhận như thế, mới thấy được hết chiều kích ý nghĩa, tồn tại sống động của văn học trong xã hội loài người. Từ góc nhìn này, có thể hiểu lý do vì sao những giờ giảng văn trong trường học VN ngày nay không còn hấp dẫn được học sinh -sinh viên. Phải chăng hệ quan niệm thẩm mỹ lạc hậu hoặc đồng nhất đã khiến cho những nhà giáo đóng đinh tác phẩm, gây cái chết tức tưởi trên văn bản giáo khoa mà không tìm ra một kết nối, gợi mở ký ức hay mối tương quan nào đó với đời sống thực tại đang đổi thay ngoài kia? Một công trình lý luận văn học được viết với cấu trúc, văn phong hiện đại, lập luận kỹ lưỡng và thiên về duy lý, gợi mở nhiều suy nghĩ trong thời buổi văn chương lu mờ trước đời sống. Rất đáng để tìm đọc nếu độc giả thực sự còn quan tâm đến sự tồn tại (cho dù) "lu mờ" đó. Nguyễn Vĩnh Nguyên Nhận xét của khách hàng Hãy chia sẽ cảm nhận của bạn về sản phẩm Văn Chương Như Là Quá Trình Dụng Điển đến mọi người
| ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||