Giới thiệu về nội dung Du Ký Việt Nam là một tuyển tập gồm 3 tập giới thiệu những bài du ký in trên tạp chí Nam Phong (1917-1934), giới thiệu những cuộc hành trình đi qua các vùng đất ở Việt Nam và một vài nơi ở nước ngoài vào đầu thế kỷ, khi mà các phương tiện giao thông còn thô sơ, việc đi lại còn rất hạn chế và khó khăn. Từng địa danh nổi tiếng trên bản đồ đất nước, từng cảnh đẹp và di tích lịch sử hiện dần lên trước mắt người lữ hành. Đây là hồ Ba Bể và núi Dục Thúy, kia là Chùa Thầy cùng với Chùa Hương… Một chuyến Ai Lao hành trình hay một lần Pháp du cũng là dịp để mở rộng tầm nhìn ra thế giới…
Qua tập du ký, người đọc có thể hình dung một phần cuộc sống và sinh hoạt của dân ta ở mọi miền đất nước đầu thế kỷ, thấm được cái tình của cha ông ta đối với non sông gấm vóc, cùng niềm tự hào về đất nước quê hương. Đầu thế kỷ XX, trước "làn gió" hiện đại của phương Tây, văn học Việt Nam chịu ảnh hưởng và tiếp thu nhiều nét mới: cùng với Thơ mới, tiểu thuyết, truyện ngắn, phóng sự, kịch… các tác phẩm tùy bút, du ký… phát triển khá nhiều. Trên Nam Phong tạp chí, tờ báo chuyên về học thuật, uy tín của học giả Phạm Quỳnh đã xuất hiện đều đặn, thường xuyên mục Du ký. Mục này nhận được sự cộng tác thường xuyên của nhiều cây bút từ Bắc vào Nam. Trên Nam Phong tạp chí, độc giả được thưởng thức những bài du ký về thắng cảnh của một địa phương, mang tính chất địa lý, lịch sử như Bài ký phong thổ tỉnh Tuyên Quang của Nguyễn Văn Bân, loạt bài viết về phong cảnh Hà Tiên của Đông Hồ, Mộng Tuyết… Hay các bài viết về những chuyến đi vượt ra khỏi biên giới Việt Nam lúc bấy giờ như Pháp du hành trình nhật ký của Phạm Quỳnh, ghi chép những điều tai nghe mắt thấy trong chuyến đi Pháp 6 tháng, Hạn mạn du ký của Nguyễn Bá Trác lấy bối cảnh Thái Lan (Siam), Nhật Bản, Trung Quốc. Ai Lao hành trình của Trần Quang Huyến thì miêu tả một chặng đường dài từ Hà Nội lên Hải Phòng, đi tàu thủy vào Sài Gòn, sang Campuchia, lên Lào... Các bài viết như thế đều mang đậm yếu tố lịch sử, xã hội. Việt Nam giai đoạn này là một xã hội thuộc địa, nửa thực dân, nửa phong kiến, với việc phân chia đất nước thành ba miền, chia để trị, chế độ kiểm duyệt khắt khe. Chính vì vậy, việc đây đó qua các bài viết đăng trên Nam Phong tạp chí có những dòng ca ngợi Nam triều, ca ngợi nước Pháp và người Pháp như là những người có công bảo hộ, khai phá văn minh… là điều dễ hiểu. NXB Trẻ cho biết, tôn trọng những yếu tố chân thực của bối cảnh lịch sử, những người thực hiện bộ sách quyết định vẫn giữ nguyên không lược bỏ những đoạn viết như thế. Bởi vì, chính Phạm Quỳnh, ông chủ bút của Nam Phong tạp chí cũng đã thể hiện tình cảm thiết tha, mặn nồng với quê hương đất nước qua ngòi bút: "Huống chi tuy khác xứ mà cũng đất nước nhà, tuy người lạ mà cùng là anh em, thời càng quen biết lại càng đậm đà cái tình máu mủ, càng đằm thắm cái nghĩa quê hương" (trích Một tháng ở Nam Kỳ). Báo chí giới thiệu Theo Đài THVN - VTV Thiếu Nữ Đeo Hoa Tai Ngọc Trai(Thứ năm, 21/02/2008 12:00:00 AM)
(VTV Ngày 21/02/2008) "Thiếu nữ đeo hoa tai ngọc trai" là cuốn tiểu thuyết được viết dựa trên nguyên mẫu một nhân vật có thật - họa sĩ Johannes Vermmer, với kiệt tác "Chân dung Thiếu nữ đeo hoa tai ngọc trai" hiện được trưng bày ở bảo tàng Mauritshuis, Hà Lan. "Thiếu nữ đeo hoa tai ngọc trai" được coi là hiện tượng văn học và trở thành cuốn sách bán chạy nhất năm 1999, được đề cử giải Orange 2000, được dựng thành bộ phim cùng tên đã được đề cử 3 giải Oscar năm 2004. Nội dung cuốn sách được nén chặt bởi cảm xúc với những câu văn ngắn gọn, văn phong trong sáng giúp bạn đọc có thể cảm nhận rõ bầu không khí ở thành Delft với dòng chảy hội họa nổi tiếng khắp thế giới tới mãi sau này. Một buổi sáng, nữ nhà văn Tracy Chevalier đang nằm trên giường và lo lắng về cuốn sách tiếp theo của mình, bà chợt thấy bức tranh "Thiếu nữ đeo hoa tai ngọc trai" của danh hoạ Hà Lan thế kỷ 17 - Johannes Vermeer được treo trong phòng ngủ. Khuôn mặt của cô gái khiến Tracy đặc biệt ấn tượng và nảy sinh câu hỏi cô ấy là ai, chuyện gì đã xảy ra giữa Vermeer và cô gái khiến ông vẽ nên vẻ mặt cô như vậy. Và một trong những cuốn tiểu thuyết xuất sắc nhất của bà đã được khơi nguồn từ câu hỏi ấy. Hà Lan, thế kỷ 17, sau tai nạn của người cha, Griet buộc phải xa nhà để trở thành hầu gái trong gia đình họa sĩ Johannes Vermmer. Cô phải đảm nhận việc nhà, giặt giũ, trông nom sáu đứa trẻ và dọn dẹp xưởng vẽ cho ông chủ. Ngày ngày, bên cạnh tiếng la ó của lũ trẻ, những trò hiềm tị của chị hầu gái, vẻ nhăn nhó của bà chủ, Griet tìm được góc yên tĩnh cho riêng mình, giữa những bức tranh dang dở. Cảm nhận tinh tế của cô hầu gái về màu sắc, ánh sáng, độ chính xác của khoảng cách, vị trí cũng như cách bài trí đồ vật đã khiến nhà danh hoạ vốn đơn độc trong thế giới của riêng mình rung động. Một tình cảm đặc biệt nảy sinh giữa họ, một tình cảm chưa bao giờ được nói thành lời nhưng dữ dội và đầy đam mê. Mặc dù nhà đông người, mặc dù mọi cử chỉ đều bị soi mói, mặc dù nơi Griet ngủ được chính tay bà chủ khóa trái và mở ra vào buổi sáng - thì cảm xúc vẫn có không gian riêng của nó, qua những ánh nhìn, qua những cái chạm tay khe khẽ. Tình cảm đặc biệt đó được kết tính cao nhất trong kiệt tác của Vermeer: "Thiếu nữ đeo hoa tai ngọc trai". "Bức tranh không hề giống một bức tranh nào khác của ông. Ông vẽ tôi với đôi mắt mở to, ánh sáng chiếu qua khuôn mặt tôi nhưng phía bên trái tôi lại ở trong bóng tối. Tôi mặc bộ đồ màu xanh, vàng và nâu. Tấm vải quấn quanh đầu khiến tôi không giống mình mà giống một Griet từ một thành phố khác, thậm chí từ một nước khác. Nền bức tranh là màu đen khiến tôi có vẻ cô đơn hơn nhiều, mặc dầu rõ ràng là tôi đang nhìn một ai đó. Tôi có vẻ như đang chờ đợi một điều gì đó mà tôi không nghĩ là đến một lúc nào đó sẽ xảy ra". Tác giả Tracy Chevalier, giản dị, tiết độ trong văn phong, và có biệt tài xây dựng những chi tiết tạo nên bước chuyển cho mạch truyện và điểm nhấn cho tác phẩm. Bí ẩn của mái tóc bị khám phá hay sự mất đi của thời trong trắng? Khuôn miệng hé mở hay những xúc cảm dữ dội không lời? Những động chạm thoảng qua và sự cháy bỏng được nén lại trong một hơi thở khẽ... "Thiếu nữ đeo hoa tai ngọc trai" đem lại cho người đọc ấn tượng về sự quyện hoà giữa những "đam mê, phẫn nộ và thấu suốt trong một cuốn sách đẹp đẽ và man dại". "Ông đứng lên hai lần thay đổi vị trí tấm mành. Nhiều lần tới tủ chọn cọ và màu khác. Tôi quan sát mọi cử động của ông như thể từ dưới đường nhìn xuyên qua cửa sổ. Chuông nhà thờ điểm ba tiếng. Tôi chớp mắt, không cảm thấy từng ấy thời gian đã trôi qua. Có cảm giác mình vừa bị bùa mê. Tôi nhìn ông - bây giờ đôi mắt đã dành cho mình. Ông cũng nhìn, trong khi dán mắt vào nhau, một luồng sóng nóng xuyên suốt người tôi. Tôi vẫn giữ mắt mình trong mắt ông, mãi khi cuối cùng ông nhìn chỗ khác". Theo Báo Người lao động Du Ký Việt Nam (Trọn Bộ 3 tập)(Thứ hai, 03/09/2007 12:00:00 AM)
Du ký Việt Nam, tạp chí Nam Phong 1917 -1934 Đọc sách này có biết bao điều thú vị được thấy, được nghe, được biết. Ba tập sách gần hai ngàn trang in lại 62 tác phẩm được coi là du ký đã đăng trên tạp chí Nam Phong trong vòng 17 năm (1917 - 1934) là cả một kho tư liệu quý giá về lịch sử, địa dư, văn hóa, phong tục của nhiều vùng miền khắp đất nước Việt Nam, ra đến cả những xứ sở lân bang ba mươi năm đầu thế kỷ XX, được ghi lại, được diễn tả, được trình bày từ chính mắt thấy tai nghe của những nhà văn nhà báo, nhà khảo cứu, cả đến những người dân thường, thích đi đây đi đó, thích khám phá tìm hiểu, thích đem những cái mình biết từ phương xa về kể lại cho đồng bào mình cùng biết. Nhờ thể tài du ký mà tuy mới du nhập vào văn chương báo chí Việt Nam, nhưng đã được những người có lòng với đất nước sử dụng, nên người đọc hồi đó và cả bây giờ, có thể “ngồi một chỗ thấy ngoài muôn dặm”. Đọc để hiểu biết, có thêm thông tin, tri thức là một lẽ. Đọc những tác phẩm du ký này còn để hiểu thêm nghĩ suy, cảm xúc của những con người đứng ở buổi đầu nền văn hóa văn học hiện đại, muốn truyền tải và gửi gắm đến quốc dân trong một nước đang tìm cách thoát lạc hậu đến văn minh. Văn du ký ở đây tả thì tả kỹ, cảm thì cảm mạnh, nghĩ thì nghĩ sâu. Theo Báo Tuổi trẻ Du Ký Việt Nam(Thứ ba, 27/03/2007 12:00:00 AM)
(Thứ Sáu, 23/03/2007) Đọc sách để đi chơi (Nhiều tác giả, Du ký Việt Nam, Nxb Trẻ) TT - Với biết bao điều thú vị được thấy, được nghe, được biết, ba tập sách gần 2.000 trang in lại 62 tác phẩm được coi là du ký đã đăng trên tạp chí Nam Phong trong vòng 17 năm (1917-1934) là cả một kho tư liệu quí giá. Lịch sử địa dư văn hóa phong tục của nhiều vùng miền khắp đất nước VN, ra cả những xứ sở lân bang 30 năm đầu thế kỷ 20, được ghi lại, được diễn tả, được trình bày từ chính mắt thấy tai nghe của những nhà văn, nhà báo, nhà khảo cứu, cả đến những người dân thường, thích đi đây đi đó, thích khám phá tìm hiểu, thích đem những cái mình biết từ phương xa về kể lại cho đồng bào mình cùng biết. Nhờ thể tài du ký, tuy mới du nhập vào văn chương báo chí VN, nhưng đã được những người có lòng với đất nước sử dụng nên người đọc hồi đó và cả bây giờ có thể “ngồi một chỗ thấy ngoài muôn dặm”. Đọc sách này để theo chân Phạm Quỳnh lang thang “mười ngày ở Huế”, sống “một tháng ở Nam Kỳ” rồi nghe ông “thuật chuyện du lịch ở Paris”; để được Nguyễn Bá Trác đưa đến Hương Cảng, Nhật Bản, Trung Quốc; để cùng Nguyễn Mạnh Hồng “thưởng ca ở làng Tả Thanh Oai”; để đi với Đông Hồ “thăm đảo Phú Quốc”; để theo Nguyễn Trọng Thuật “nam du đến Ngũ Hành Sơn”... Đọc để hiểu biết, có thêm thông tin, tri thức là một lẽ. Đọc những tác phẩm du ký này còn để hiểu thêm nghĩ suy, cảm xúc của những con người đứng ở buổi đầu nền văn hóa văn học hiện đại, muốn truyền tải và gửi gắm đến quốc dân trong một nước đang tìm cách thoát lạc hậu đến văn minh. Văn du ký ở đây tả thì tả kỹ, cảm thì cảm mạnh, nghĩ thì nghĩ sâu. Họ, những người viết du ký, có lẽ đều có chung một niềm cảm khái như Phạm Quỳnh khi đi đến một miền xa trở về: “Từ khi tôi về đến nay, các ngài quen biết nhiều ông có bụng yêu ân cần hỏi: “Chuyến này đi Tây về có được gì không?”. Tôi hỏi: “Được gì?”. “Được bội tinh, được thăng thưởng chớ gì!”. Nghe câu hỏi mà tôi riêng lấy làm thẹn... Không! Chuyến này đi Tây tôi cũng có cái sở đắc, nhưng không phải sở đắc như thế, sở đắc được một điều: là được sáng mắt thêm ra, biết cái chân tình thế trong thiên hạ, biết cái chân giá trị của người ta, biết cái gì là cao, cái gì là sang, cái gì là trọng, cái gì là quí... Không, chuyến này đi Tây tôi cũng có cái sở đắc, nhưng sở đắc là được sáng mắt ra như thế, chớ không phải sở đắc cái hư vinh gì để huyễn diệu bà con”. Những lời này viết ra từ 85 năm trước còn cập thời đến nay biết bao! Phó giáo sư, tiến sĩ văn học Nguyễn Hữu Sơn, người biên soạn và giới thiệu bộ sách du ký trên Nam Phong này là người cẩn trọng và nghiêm túc về mặt tư liệu và khảo cứu. Bài giới thiệu của anh vừa đủ thông tin để người đọc biết được khái lược sự hình thành và phổ biến của thể tài du ký VN từ trung đại đến hiện đại. Anh đã tạm phân định các tác phẩm du ký in trên Nam Phong thành mấy dòng sau: dòng quan phương, sự vụ; dòng viễn du; dòng khảo cứu một địa điểm cụ thể; dòng khảo sát một vùng văn hóa; dòng nghệ thuật. Chỉ riêng một đề mục “du ký” này thôi đã phần nào cho thấy nội dung và đóng góp to lớn của tạp chí Nam Phong cho nền văn hóa văn học hiện đại nước nhà buổi mới sơ khai. Bước đầu đây là những gợi ý cần thiết cho giới nghiên cứu, cũng như là những chỉ dẫn bổ ích cho độc giả. Công phu này của người biên soạn đã được NXB Trẻ đáp lại bằng một bộ sách in đẹp, trang nhã, bề thế, rất xứng với các giá trị nó mang chứa trong mình. Mong sao tên gọi Du ký Việt Nam là tên chung của cả một loạt sách rồi đây sẽ còn có tiếp những cuốn, những bộ khác nữa sưu tập các tác phẩm du ký trên các tạp chí lâu năm (như tờ Bách Khoa ở Sài Gòn trước 1975), trên các sách báo Việt ngữ suốt một thế kỷ qua. Làm được thế vừa là thỏa mãn khát khao đọc và đi của độc giả, vừa là lập thành một kho tư liệu quí cho các ngành văn hóa, xã hội khai thác, sử dụng. PHẠM XUÂN NGUYÊN Theo Báo SGGP Du Ký Việt Nam (Bộ 3 tập)(Thứ ba, 27/03/2007 12:00:00 AM)
Nhận xét của khách hàng Hãy chia sẽ cảm nhận của bạn về sản phẩm Du Ký Việt Nam (Trọn Bộ 3 tập) đến mọi người
| ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||